Giới thiệu về chuyên khoa Chấn thương chỉnh hình
Mục lục
Lịch sử phát triển chuyên khoa Chấn thương Chỉnh hỉnh
1. Định nghĩa:
Chuyên
khoa chấn thương chỉnh hình (Orthopaedic surgery hoặc Orthopaedics) là một
nhánh của ngoại khoa liên quan với sự phát triển của hệ cơ xương khớp. Bác sỹ
chấn thương chỉnh hình sử dụng cả các biện pháp phẫu thuật và điều trị nội khoa
(không phẫu thuật) để điều trị các chấn thương đơn thuần (gãy tay, gãy chân, cột
sống...), bệnh lý cột sống, y học thể thao, bệnh lý thoái hóa khớp, bệnh nhiễm
trùng, u xương và các dị tật di truyền.
2. Lịch sử phát triển của chuyên ngành chấn thương chỉnh hình
- Sự phát triển của chuyên ngành chấn
thương chỉnh hình liên quan nhiều đến chiến tranh.
- Trong chiến trường thời Trung cổ, các vết
thương thường được băng bó bằng các băng tẩm máu ngựa được hong khô – có ưu điểm
là cứng nhưng nhược điểm là không hợp vệ sinh. Tuy vậy, trong y, chấn thương chỉnh
hình được bác sỹ Nicolas Andry (ĐH y Pari) mô tả lần đầu tiên vào năm 1741 về sự
nắn, chỉnh các dị dạng của trẻ em. Ông đã chứng minh được việc sử dụng các bài
tập, các thủ thuật nắn và bó bột có thể chỉnh các dị dạng của trẻ em.
- Viện chấn thương chỉnh hình đầu tiên
trên thế giới được mở ra vào năm 1780 do Jean-André Venel – bệnh viện chuyên chỉnh
hình cho các dị tật hệ xương khớp của trẻ nhỏ. Ông cũng chính là người đầu tiên
mô tả và phát triển loại giày đặc biệt để chỉnh hình cho các dị tật bàn chân
khoèo (club-foot) và nhiều phương pháp để lấy lại đường cong của cột sống.
- Trong thế kỷ 18, chấn thương chỉnh hình
có những bước phát triển đáng kể: John Hunter nghiên cứu trong sự liền của gân
cơ, Percival Pott nghiên cứu ra các phương pháp mới để chỉnh hình các dị dạng cột
sống, Antonius Mathijsen (phẫu thuật viên trong quân đội Đức) đã phát minh ra bột
thạch cao Pari (1851). Tuy vậy, cho đến năm 1890, chấn thương chỉnh hình vẫn chỉ
xoay quanh việc chỉnh hình các dị tật ở trẻ em.
- Một
trong thủ thuật phẫu thuật đầu tiên của chấn thương chỉnh hình được phát triển
là phẫu thuật kéo dài gân gót qua da (Percutaneous Achilles tenotomy).
- Hugh
Owen, một phẫu thuật viên xử Wales (Anh) đã giúp hiện đại hóa chuyên khoa chấn
thương chỉnh hình. Ngay từ nhỏ ông đã rất yêu thích chấn thương chỉnh hình cũng
như cấu tạo, sự phát triển của xương và bản thân ông đã có nhiều nghiên cứu và
vai trò quan trọng trong việc điều trị gãy xương và lao xương khớp: Phát minh bột
Thomas để bó bột xương đùi và hạn chế nhiễm trùng, Thomas collar để bất động
trong lao cột sống cổ, thủ thuật Thomas để chẩn đoán vỡ khớp háng (gãy xương
đùi và vỡ ổ cối)... Robert Jones, cháu của Hugh Owen đã giúp phát triển hệ thống
sơ cấp cứu ban đầu gãy xương. Chính ông cũng là người sáng lập cộng đồng chấn
thương chỉnh hình ở Anh năm 1894.
-
Gerhard Kuntchsher nghiên cứu chế tạo thành
công đinh nội tủy xương chày và xương đùi
-
Năm 1960, ngài John Charnley đặt nền
móng cho phẫu thuật thay khớp háng hiện đại với loại khớp háng có xi măng mang
tên ông đầu tiên.
-
McIntosh cũng đã thực hiện các kỹ thuật
tương tự để thay khớp gối cho các bệnh nhân viêm khớp dạng khớp nặng, và sau đó
được tiếp nối bởi các bác sỹ Gunston và Marmor, John Insall... hoàn thiện dần kỹ
thuật này.
-
Khung cố định ngoại vi được phát triển
trong chiến tranh Việt Nam bởi bác sỹ Gavril Abramovich Ilizarov (Liên Xô)
3. Các chuyên ngành sâu của chuyên ngành chấn thương chỉnh hình:
a. Phẫu
thuật bàn tay (Hand surgery)
b. Phẫu
thuật khớp vai và khớp khuỷu (Shoulder and elbow surgery)
c. Phẫu
thuật thay khớp (Total joint reconstruction hay Arthroplasty)
d. Phẫu
thuật tái tạo xương (Skull reconstruction)
e. Chấn
thương chỉnh hình nhi (Pediatric Orthopedics)
f. Phẫu
thuật cổ - bàn chân (Foot and ankle surgery)
g. Phẫu
thuật cột sống (Spine surgery)
h. U
cơ xương khớp (Musculoskeletal oncology)
i. Y
học thể thao (Surgical sports medicine)
j. Chấn
thương đơn thuần (Orthopedic traumatology)
k. Phục
hồi chức năng chấn thương chỉnh hình
l. Phục
hình (Chân tay giả, đế giày, bột...)
Ngày
nay, do sự phát triển của nhiều chuyên khoa dẫn đến có sự chồng lấn giữa nhiều
chuyên khoa, vì vậy đôi khi các chuyên khoa kể trên không đơn thuần chỉ do phẫu
thuật viên chấn thương chỉnh hình mà còn do nhiều chuyên khoa khác thực hiện.
Ví dụ, phẫu thuật bàn tay có thể được thực hiện bởi các bác sỹ tạo hình – thẩm
mỹ hay phẫu thuật cột sống có thể được thực hiện bởi các phẫu thuật viên thần
kinh...
4. Các kỹ thuật hiện đại đã và đang được thực hiện tại Bệnh viện Bưu Điện:
- Phẫu thuật nội soi:
Sửa chữa, tái tạo các tổn thương ở khớp gối (dây chằng chéo trước và sau, sụn
chêm, sụn khớp...), khớp vai (sửa chữa tổn thương Bankart, khâu lại chóp xoay,
mở rộng khoang dưới mỏm cùng...), khớp cổ chân, khớp cổ tay, khớp háng, khớp
khuỷu
- Phẫu thuật thay khớp:
Thay khớp háng (toàn phần, bán phần), khớp gối (toàn phần, bán phần), khớp vai
(bán phần, toàn phần, đảo ngược), đài quay, khớp khuỷu.
- Phẫu thuật điều trị gãy
xương:
các gãy kín và gãy hở của gãy xương đùi, xương cẳng chân, xương cánh tay, xương
cẳng tay (xương trụ, xương quay), bao gồm cả các kỹ thuật xâm lấn tối thiểu/ ít
xâm lấn.
- Phẫu thuật cột sống:
Lấy thoát vị đĩa đệm đơn thuần, hàn khớp, mở cung sau giải ép, thay đĩa đệm,
thay thân đốt sống, ghép xương, cố định cột sống, chỉnh gù, vẹo, bơm xi măng
thân đốt sống.
- Phẫu thuật cắt bỏ u
- Phẫu thuật giải phóng hội chứng khoang,
hội chứng đường hầm (cổ tay, cổ chân...), kéo dài gân, khâu nối gân
- Các phẫu thuật chỉnh hình:
Chỉnh trục chi, chỉnh vẹo, chỉnh xoay, các chuyển vạt
Nhận xét
Đăng nhận xét