Hội chứng ống cổ tay

 


Xem Fanpage BS Bùi Đức Ngọt

Hội chứng ống cổ tay (carpal tunnel syndrome) là một bệnh lý thường gặp ở vùng cổ bàn tay. Nó xảy ra khi 1 trong 3 dây thần kinh chi phối vận động và cảm giác của bàn tay bị chèn ép khi nó đi qua vùng cổ tay. Bệnh có thể khỏi nếu được chẩn đoán sớm và điều trị đúng. Việc điều trị giai đoạn này khá đơn giản: tránh hoặc hạn chế các hoạt động gây căng gan cổ tay và nẹp bột cẳng bàn tay. Bệnh sẽ diễn biến xấu đi nếu chèn ép thần kinh vẫn còn tiếp tục và nếu để trong thời gian dài, có thể dẫn đến tổn thương không hồi phục. Lúc này, chỉ định phẫu thuật được đặt ra để giải phóng thần kinh khỏi chèn ép.

1. Lịch sử

Tới mục lục

- 1854, James Paget mô tả lần đầu tiên về sự chèn ép thần kinh quay mạn tính ở các bệnh nhân gãy cũ đầu dưới xương quay, ngang mức cổ tay.

- 1884, Bouilly mô tả một trường hợp BN 17 tuổi, gãy Colles và đau dây thần kinh giữa và được điều trị bằng mổ và cắt bỏ lồi can xương gây chèn ép.

- 1913, Marie và Fox lý giải và đưa ra phân loại các đau thần kinh chi trên theo phân bố thần kinh, và đề ra phương pháp điều trị cho hội chứng ống cổ tay bằng cách cắt dây chằng ngang cổ tay.

- 1946, Cannon và Love chứng minh nhận định trên khi nghiên cứu trên 9 BN. Rồi sau đó là Brain, Wright, Wilkinson và Phalen đã dần hoàn thiện việc chẩn đoán và điều trị hội chứng ống cổ tay.

2. Giải phẫu

Tới mục lục

Ống cổ tay hay đường hầm cổ tay là một khoảng hẹp nằm ở gan cổ tay với nền và 2 thành của nó là các xương cổ tay. Trần của nó là một dải cân chắc, khỏe, được gọi là dây chằng ngang, có chiều dài 2 – 5cm, 2-3cm chiều rộng và dày khoảng 0,5cm, càng đi ra ngoại vi thì càng hẹp lại. Bởi cấu trúc như trên nên không gian của đường hầm có ít khoảng trống để căng giãn hoặc tăng kích thước. Đi trong ống cổ tay có thần kinh giữa và 9 gân cơ có tác dụng gấp bàn tay và các ngón tay (nên được gọi là nhóm gân gấp). Gân cơ gấp nông các ngón nằm trên cơ gấp sâu các ngón và cơ gấp ngón cái dài. Cơ gấp ngón cái dài nằm trong bao hoạt dịch của nó, bao hoạt dịch ngón-cổ tay quay. Các cơ gấp chạy trong bao hoạt dịch ngón-cổ tay trụ.

Các mốc xác định ống cổ tay: 1-móc của xương móc cổ tay, 2-xương đậu, 3-lồi củ xương thang, 4-lồi củ xương nguyệt

Hình cắt ngang qua cổ tay: 1-Bao hoạt dịch gân gấp (bờ trụ), 2-thần kinh trụ, 3-cơ gấp cổ tay trụ, 4-động mạch trụ, 5-dây chằng ngang cổ tay hay hãm gân gấp cổ tay, 6-thần kinh giữa, 7-cơ gấp cổ tay quay, 8-cơ gấp ngón cái dài

Ống cổ tay ở đoạn gần: Bề dày của mạc hãm gân gấp: phía gần: 0,6 (0,2-0,8)mm, ở giữa 0,9 (0,4-1,6mm), xa 0,6 (0,1-1) mm. Bề dày của đầu gần ống cổ tay: bên quay 8mm, giữa 12mm và bên trụ 10mm. P: xương đậu, Tri: xương tháp, H: xương móc, C: xương cả, S; Xương thuyền

Ống cổ tay ở đoạn xa: Bên quay 11mm, giữa: 10mm, bên trụ 12mm, MI: Xương đốt bàn 1, T: xương thang, t: xương thê, C; xương cả, H: xương móc, Var: Móc xương móc

            Thần kinh giữa nằm nông hơn các gân gấp và nhạy cảm nhất với áp lực trong ống cổ tay. Giải phẫu thần kinh giữa và các nhánh của nó cũng thay đổi nhiều và do đó, khi phẫu thuật vào vùng này có thể gây tổn thương các nhánh này. Vì vậy, trước khi vào ống cổ tay, cần bộc lộ và tách các nhánh này ra. Các nhánh bì gan tay nguyên ủy tách ra từ 5-8cm phía trên cổ tay và chạy phía bờ quay của thần kinh giữa. Trong ống cổ tay, thần kinh giữa tách ra các nhánh để cảm giác cho mặt gan tay của ngón cái, ngón trỏ, nhánh vận động cho cơ khép ngón cái ngắn, cơ đối chiếu ngón cái và phần nông của cơ gấp ngón cái ngắn. 33% các trường hợp cơ gấp ngón cái ngắn nhận sự chi phối vận động của thần kinh giữa. Ở 2% dân số, cơ dạng ngón cái cúng chịu chi phối bởi thần kinh giữa. Tổn thương TK giữa khi phẫu thuật hoặc bị chèn ép sẽ dẫn tới teo ô mô cái và mất khép và đối chiếu ngón cái, như bàn tay khỉ.

Sự phân bố của TK giữa trong ống cổ tay

3. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ:

Tới mục lục

Hơn 80 năm trước, Marie và Foix đã đề xuất cắt dây chằng vòng (hay dây chằng ngang cổ tay) để điều trị hội chứng ống cổ tay. Ống cổ tay gồm có: Xương, gân, mô liên kết, bao hoạt dịch và mô thần kinh. Do đó, bất kì bệnh lý hoặc chấn thương nào của các thành phần này xảy ra đều khiến đường hầm trở nên hẹp hơn và chèn ép thần kinh giữa. Do đó, có thể coi thần kinh giữa như một chỉ báo cho các bệnh lý cổ tay.

Brain và cs đo áp lực cổ tay thấy áp lực này thay đổi từ 0 – 30mmHg, tùy thuộc vào tư thế cổ tay. Bệnh lý xảy ra khi áp lực trên 100mmHg.

Trong hầu hết các trường hợp, hội chứng ống cổ tay do nhiều yếu tố phối hợp, thường gặp ở phụ nữ và người già.

Các yếu tố nguy cơ:

- Di truyền: Đây là một yếu tố quan trọng. Ở một số người kích thước của ống cổ tay nhỏ hơn hoặc các thay đổi giải phẫu làm thay đổi không gian trong ống cổ tay, do đó, bệnh thường xảy ra có tính chất di truyền.

- Các hoạt động lặp lại, kéo dài của cổ bàn tay: Các hoạt động lặp đi lặp lại của cổ bàn tay, diễn ra trong một thời gian dài có thể làm tổn thương các gân, do đó gây phù nề và tăng áp lực lên thần kinh

- Tư thế của cổ – bàn tay: Các tư thế, động tác quá gấp hoặc quá duỗi cổ tay kéo dài làm tăng áp lực lên thần kinh.

- Mang thai: Sự thay đổi hormon trong quá trình mang thai làm phù nề bao hoạt dịch gân gấp, do đó làm hẹp khoảng không gian còn lại

- Các bệnh lý toàn thân: Tiểu đường, viêm khớp dạng thấp, gút, bệnh lý tuyến giáp thường liên quan với hội chứng ống cổ tay.

4. Triệu chứng lâm sàng

Tới mục lục

Komar, Ford và Ali mô tả và phân hội chứng ống cổ tay thành 2 loại: Cấp tính và mạn tính. Hội chứng ống cổ tay cấp tính biểu hiện với các triệu chứng: Cổ tay đau nhiều, cổ tay và bàn tay phù nề, tay lạnh và giảm vận động của ngón tay. Vận động ngón tay bị giảm hoặc mất do phối hợp giữa đau và liệt nhẹ. Hội chứng ống cổ tay mạn tính thường biểu hiện ở rối loạn cảm giác và mất vận động, với việc xuất hiện teo cơ.

Bao gồm:

- Tê bì, cảm giác bó chặt, bỏng và đau, ban đầu thường ở ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa và ngón đeo nhẫn.

- Đôi khi có cảm giác giật rồi lan ra ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa và ngón nhẫn

- Một vài trường hợp có đau và cảm giác bó chặt lan lên cẳng tay tới vai.

- Yếu hoặc giảm động tác tinh tế của tay như không cài được cúc áo.

- Đánh rơi đồ khi đang cầm, nắm

Các triệu chứng trên thường xuất hiện rõ và tăng về ban đêm và thường giảm đi khi thay đổi tư thế tay như lắc tay, xoa bóp nhẹ hoặc để xuôi tay. Nhiều trường hợp giảm đau khi ngâm tay trong nước lạnh. Các triệu chứng này thường xảy ra ở các ngày tiếp theo và khởi phát ở một vài tư thế hoặc động tác như: May vá, lái xe, giữ điện thoại hoặc giữ sách khi đọc.

Các nghiệm pháp giúp chẩn đoán hội chứng ống cổ tay:

- Nghiệm pháp Tinel: Tê bì hoặc đau vùng ô mô cái và các ngón 1, 2, 3 khi gõ dọc đường đi của thần kinh giữa. Tuy nhiên nó chỉ có dương tính thật: 58 tới 67%, dương tính giả trong 20%. Do đó, nếu chỉ dựa vào nghiệm pháp Tinel thì chưa đủ để chẩn đoán hội chứng ống cổ tay.

Nghiệm pháp Tinel

- Nghiệm pháp Phalen: Thực hiện bằng cách giữ cổ tay ở tư thế gấp cổ tay tối đa trong vài giây. Nếu xuất hiện cảm giác tê bì, bó chặt ở các ngón 1 – 3 trong 60s thì nghiệm pháp dương tính. Nghiệm pháp này dương tính thật 66 – 88% và dương tính giả khoảng 20%.

Nghiệm pháp Phalen

- Nghiệm pháp Durkan: Là nghiệm pháp có độ nhạy cao trong chẩn đoán hội chứng ống cổ tay. Được thực hiện bằng cách dùng ngón cái ấn lên vị trí của ống cổ tay trong 30s. Dương tính thật 87%-100%. Dương tính giả khoảng 10%.

Nghiệm pháp Durkan

- Các test đánh giá cảm giác: test về sự phân bố thần kinh và các test ngưỡng. Test Weber đánh giá khoảng cách 2 điểm là test tốt nhất để chẩn đoán hội chứng ống cổ tay ở mức độ nhẹ và trung bình. Test áp lực Von Frey với kim Semmes-Weinstein. Độ nhạy của Weber là 30% và Van Frey test là 52%.

Weber’s test

Test áp lực Von Frey’s

Khi đến muộn, các triệu chứng trên có thể xuất hiện liên tục, đồng thời teo các cơ ô mô cái. Tổn thương thần kinh giữa giai đoạn này là không hồi phục và hiệu quả điều trị thường không cao.

Teo cơ ô mô cái

5. Triệu chứng cận lâm sàng

5.1. Điện thần kinh cơ

Tới mục lục

Điện cơ: EMG – Electromyography ghi lại hoạt động của cơ. Các điện cực được sử dụng để xác định các hoạt động tiềm tàng của cơ. Một vài loại điện cực sử dụng kim: gồm 2 đầu vào - ra với kích thước lần lượt là 0,1 và 0,3mm. Kích thước điện cực có thể thay đổi tùy vào vùng cần khảo sát. Thần kinh sẽ được kích thích và sự dẫn truyền của nó sẽ được ghi lại. Các tín hiệu điện bao gồm cường độ dòng điện, biểu hiện trên biểu đồ và chuyển thành tín hiệu âm thanh nghe qua loa. Tín hiệu hoạt động cơ bình thường bao gồm hoạt động tự phát và hoạt động chủ động.

Điện cực đầu vào sẽ được kích thích cơ học và làm phát sinh ra hoạt động đầu vào (insertional activity) thường ngắn dưới 300ms. Khi cơ nghỉ sẽ không sinh ra dòng điện tạo thành đường đẳng điện im lặng (silent baseline). Khi BN cảm thấy cảm giác không thoải mái, sâu – bỏng thì điện cực đang ở gần đầu mút thần kinh cơ, thường nằm tại bụng cơ. Nếu ở vị trí này, âm bám tận (and-plate noise) có thể xảy ra – Đây là hoạt động tự phát bình thường của cơ.

Điện cơ là phương pháp cận lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt với các rối loạn thần kinh khác của hội chứng ống cổ tay.

Mục đích của làm điện cơ:

- Xác định vị trí tổn thương

- Mô tả sự tiến triển của dây vận động, dây cảm giác hoặc cả hai

- Xác định loại tổn thương (mất sợi trục, đề myalin hóa) và mức độ nghiêm trọng của tổn thương (mức độ tổn thương mất sợi trục, sự liên tục của sợi trục).

- Thời gian tổn thương.

            Biểu hiện của hội chứng ống cổ tay trên điện cơ:

- Giảm tốc độ dẫn truyền của thần kinh giữa đoạn qua ống cổ tay

- Giảm cường độ dẫn truyền (tăng sức trở kháng) của thần kinh giữa đoạn qua ống cổ tay

5.2. Chẩn đoán hình ảnh

Tới mục lục           

Các biện pháp chẩn đoán hình ảnh ít có giá trị chẩn đoán hội chứng ống cổ tay, thường được thực hiện chỉ khi tiền sử có chấn thương, các u hoặc bệnh lý viêm khớp dạng thấp.

            Chụp X-quang và cắt lớp khớp cổ tay chủ yếu đánh giá về xương vùng cổ tay, thích hợp cho các trường hợp sau chấn thương hoặc viêm khớp dạng thấp có biến dạng khớp.

            Chụp MRI cổ tay có giá trị trong việc đánh giá cấu trúc ống cổ tay, chẩn đoán xác định và chẩn đoán nguyên nhân chèn ép tại chỗ. 4 dấu hiệu cần mô tả:

- Phù nề thần kinh giữa

- Thần kinh giữa bị dẹt ra

- Mạc hãm gân gấp bị uốn cong gan tay.

- Tăng tín hiệu thần kinh giữa trên T2.

6. Điều trị

Tới mục lục 

        Điều trị hội chứng ống cổ tay tùy thuộc vào nguyên nhân, thời gian xuất hiện triệu chứng và mức độ chèn ép thần kinh. Nếu hội chứng này là biểu hiện thứ phát của các bệnh lý nội tiết, huyết học và các bệnh lý hệ thống khác thì nên đồng thời điều trị các bệnh lý nguyên phát. Phẫu thuật viên sẽ theo dõi và đánh giá mức độ đảo ngược chèn ép thần kinh giữa. Nếu sự đảo ngược này không diễn ra hoặc nếu các triệu chứng có dấu hiệu nặng lên thì nên có hướng điều trị kịp thời.

6.1. Điều trị nội khoa

Tới mục lục

            Gồm giảm hoặc chống chấn thương hoặc các động tác lặp lại, bất động, các loại thuốc chống viêm, cải thiện điều kiện công việc và tiêm corticoid. Duncan & cs mô tả, tại Mỹ 50 – 70% số BN được chẩn đoán hội chứng ống cổ tay có thể loại bỏ các triệu chứng mà không cần điều trị phẫu thuật. Cổ tay được bất động ở tư thế cơ năng: Duỗi nhẹ cổ tay với bột/ nẹp để trong 3 – 6 tuần. Một số BN phản hổi về sự cải thiện khi để cổ tay ở tư thế trung tính (không gấp/duỗi).

            Trong khi nhiều BN nhẹ đi, các triệu chứng thường bị tái mắc. Việc tiêm corticoid vào đường hầm cổ tay có thể được đề xuất ở các trường hợp này. Vị trí tiêm vào đường hầm cổ tay là ở cạnh trụ của gân gan tay dài hoặc cơ gấp cổ tay quay với góc kim khoảng 30o, ngang mức ở nếp gấp cổ tay gần. Hỗn hợp giữa chất vô cảm và steroid không nên tiêm vào thần kinh hoặc gân. Trong khi tiêm cần đánh giá mức độ nặng tay khi bơm kim hoặc cảm giác điện giật. Trong 48 giờ đầu, BN có thể xuất hiện các cảm giác không thoải mái, đau và cứng khớp bởi tác dụng của dịch tiêm sẽ làm tăng áp lực lên thần kinh và đường hầm. Mũi tiêm sẽ được nhắc lại trong 7 đến 10 ngày trong một liệu trình khoảng 3 đến 4 lần tiêm. Nếu triệu chứng không giảm nhẹ thì đây được coi là một chỉ định để phẫu thuật giải ép. Trong quá trình thực hành của chúng tôi, một mũi tiêm sẽ dùng để xác định chẩn đoán và tiên lượng nguy cơ phẫu thuật. BN có thể có cảm giác tê tay và nên cảnh báo BN bảo vệ các ngón tay của họ ở những ngày đầu sau tiêm. Thất bại trong việc cảm nhận bất kỳ sự thay đổi là yếu tố tiên lượng thận trọng cho việc hồi phục hoàn toàn. Việc kéo dài điều trị bảo tồn quá 6 – 8 tháng có thể dẫn tới không đạt hiệu quả tối ưu trong phẫu thuật.

            Các trường hợp hội chứng ống cổ tay nhẹ (trên điện cơ và lâm sàng) có thể điều trị bảo tồn quá 6 tháng.  Các trường hợp trung bình và nặng về mức độ chèn ép thì không chỉ đơn thuần là theo dõi tiếng triển. Trong khi kết quả thay đổi: Semple & Cargill cho thấy tỷ lệ thành công 97% cho duy trì triệu chứng trong hơn 6 tháng, Hybbinette và Mannerfelt cho thấy tỷ lệ thành công lần lượt là 98% và 90% trong việc giảm đau và rối loạn cảm giác. Các nghiên cứu này mô tả mục tiêu cải thiện các triệu chứng vận động. Trong khi đó, về tầm quan trọng của điều kiện làm việc gây ra hội chứng ống cổ tay, nghiên cứu về các thiết kế điều kiện làm việc đã thất bại trong ảnh hưởng tới việc cải thiện kết quả. Sự thay đổi về văn hóa bất ngờ lại ảnh hưởng đến tỷ lệ đạt được và tỷ lệ chẩn đoán. Sự thay đổi này mâu thuẫn với các giả thuyết dựa trên nghề nghiệp.

6.2. Điều trị phẫu thuật

Tới mục lục

            Thất bại trong đáp ứng điều trị bảo tồn 6 tháng hoặc các triệu chứng xấu đi là các chỉ định điều trị phẫu thuật giải ép. Ống cổ tay được tiếp cận qua đường rạch da song song với nếp gấp lòng bàn tay tới nếp gấp gan cổ tay thì rạch chéo (hình vẽ). Cần lưu ý bảo tồn nhánh gan tay của thần kinh giữa. Bộc lộ và tách dọc gân cơ gan tay dài. Gân này nên được bảo tồn ở các bệnh nhân trẻ đẻ có nguồn gân cho các kỹ thuật tái tạo cấu trúc. Nó cũng có thể được sửa chữa như một lớp vảo vệ cho thần kinh giữa.



            Dây chằng ngang cổ tay hoặc mạc hãm gân gấp được tiếp cận từ phía gần hoặc phía xa sao cho có thể quan sát hết được sự thay đổi của các nhánh thần kinh giữa. Sự thay đổi các nhánh lòng bàn tay từ một cho đến nhiều nhánh tới nguyên ủy của ống cổ tay. Dây chằng ngang cổ tay cần được cắt bỏ hoàn toàn hoặc một phần để tránh tái phát do các dải sơ chặt và vì vậy gây nên hội chứng ống cổ tay. Unusic khuyên rằng bộc lộ toàn bộ dây chằng ngang trước khi cắt nó ở phía trụ. Thăm dò thần kinh giữa giúp phát hiện các biến dạng “đồng hồ cát” trong vùng xơ hóa. Vùng thiếu máu đỏ trên thần kinh thường biểu hiện. Nếu không thể tìm được tổn thương này nên rạch dọc theo bao dây thần kinh.

            Phân tách thần kinh và cắt gân để điều trị vẫn còn đang tranh luận. Unusic đề nghị phân tách gian bó thần kinh vi phẫu. Curtis và Eversmann cho rằng việc phân tách gian bó thần chỉ nên thực hiện khi teo cơ ô mô cái hoặc các triệu chứng tồn tại từ rất lâu. Chúng tôi không cho rằng nên phân tách thần kinh thường quy. Khi có biểu hiện teo cơ ô mô cái, các nhánh vận động cũng nên được giải ép kèm theo. Các bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cần cắt cân để giải ép vùng này. Điều này yêu cầu vết mổ lớn hơn. Thêm vào đó, chứ năng của gân cũng nên được kiểm tra để loại trừ tổn thương hoặc đứt gân – rất thường gặp trong viêm khớp dạng thấp. Điều này hoàn toàn có thể làm được trước mổ bằng các nghiệm pháp khám gân đơn giản.

            Bilic và Pecina tổng kết các nghiên cứu và phát hiện rằng phẫu thuật giúp giảm đau, cải thiện chức năng và đặc điểm thẩm mỹ, giảm nhanh tiến triển của bệnh. Sau phẫu thuật giải ép, cổ tay nên được nẹp mặt mu ở tư thế duỗi và treo cao trong 24 – 48 giờ để giảm phù nề. Thời gian bất động thay đổi từ 1 -  3 tuần, tùy thuộc và mức độ tổn thương và kích thước vết mổ. Vận động ngay các ngón tay sẽ giúp hạn chế dính gân và chèn ép thần kinh giữa bởi mô sẹo. Đau nền ngón cái sau mổ (pillar pain) có thể kéo dài đến 3 tháng nếu không tuân thủ điều trị. Hơn nữa, hội chứng ống cổ tay có thể tái phát với ít các yếu tố tiên lượng thuận lợi hơn.

            McDonald & cs mô tả các biến chứng sau mổ giải ép:

- Tái phát chèn ép do cắt không hết dây chằng ngang cổ tay.

- Loạn dưỡng giao cảm

- Chấn thương nhánh cảm giác hoặc vận động của thần kinh giữa.

- Sẹo lồi

- Tụ máu ở mu tay

- Sa gân gấp

- Viêm dính dẫn đến hạn chế vận động/ co rút gân cổ - bàn tay.

            Các biến chứng này có thể giảm bằng thực hiện chính xác phẫu thuật, chăm sóc sau mổ tốt và tạp phục hồi chức năng.

            Mổ nội soi điều trị hội chứng ống cổ tay cũng là một phương pháp điều trị phổ biến. Nhiều đều tài đã chỉ ra ưu và nhược điểm của phương pháp này. Một vài thay đổi về kỹ thuật hiện vẫn đang được sử dụng, và tùy thuộc vào thói quen và kinh nghiệm của các phẫu thuật viên. Cần lưu ý rằng, thần kinh trụ và động mạch nằm ở bờ trụ của dây chằng ngang cổ tay. Nội soi điều trị hội chứng ống cổ tay cho phép vận động sớm và giảm kích thước vết mổ. Phẫu thuật mổ mở nhỏ có kích thước vết mổ nhỏ hơn và cũng có thể vận động sớm được. Nếu bất thường giải phẫu hoặc nhìn thấy thần kinh vắt ngang qua thì cần phải chuyển mổ mở để kiểm soát. Mặc dù với tất cả các kỹ thuật điều trị hiện tại, bệnh nhân bị chèn ép kéo dài hoặc liên quan tới công việc sẽ hồi phục chậm hơn và ít hài lòng hơn khi phẫu thuật.

            Trong khi các phương thức điều trị bảo tồn hiệu quả ở nhiều BN, nhưng nguy cơ kéo dài sự chèn ép kết hợp với tỷ lệ thành công cao của phẫu thuật nên việc lên lịch phẫu thuật là cần thiết. Quy trình điều trị sẽ là: Điều trị bảo tồn trước, sau đó phẫu thuật giải phóng chèn ép.

7. Điều trị sau phẫu thuật

Tới mục lục

            Có 4 điểm cần lưu ý sau phẫu thuật giải ép điều trị hội chứng ống cổ tay:

-        Tập phục hồi chức năng.

-        Theo dõi, đề phòng biến chứng, nhất là biến chứng nhiễm trùng

-        Có chế độ dinh dưỡng phù hợp

-        Bảo vệ vùng cổ tay.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Thoái hóa khớp gối

Góc nghiêng khớp háng - Kiến thức cơ bản

Gãy 2 xương cẳng chân